CÔNG NGHIỆP
  Máy phân tích trên băng cho than
  Máy phân tích trên băng cho xi măng
  Sản phẩm của Thermo Ramsey
  Máy phân tích khí
  Băng Tải
  Con Lăn
  Cân điện tử
  Thiết bị y tế
  Máy nghiền
  Thiết bị phòng thí nghiệm
  Xử lý nước
NÔNG NGHIỆP
  Nguyên liệu SX TĂCN
  Thiết bị
Tìm kiếm - sản phẩm
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ trực tuyến
04.39108638
Hình ảnh - Quảng cáo
Lượt truy cập
Số người online: 1183
Tổng truy cập: 26.302.353
Ngành công nghiệp
Tổng quan ngành công nghiệp xi măng Việt Nam 

1.   Tổng quan ngành xi măng

1.1 Ngành xi măng  trên TG

Nền kinh tế thế giới trong những năm qua (2000 - 2007) bước vào giai đoạn phát triển ổn định và có thiên hướng chú ý vào nền kinh tế Châu Á. Tiêu dùng xi măng trong những năm trở lại đây không ngừng tăng trưởng và là động lực quan trọng thúc đẩy ngành công nghiệp xi măng phát triển tại một số nước đang phát triển như: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia… (trên thế giới hiện nay có khoảng hơn 160 nước sản xuất xi măng, tuy nhiên các nước có ngành công nghiệp xi măng chiếm sản lượng lớn của thế giới thuộc về Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước như khu vực Đông Nam Á là Thái Lan và Indonesia).

Theo dự báo nhu cầu sử dụng xi măng từ nay đến năm 2020: Tăng hàng năm 3,6% năm nhu cầu sử dụng xi măng có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực trên thế giới: (nhu cầu các nước đang phát triển 4,3% năm, riêng châu Á bình quân 5%/năm, các nước phát triển xấp xỉ 1%/năm. Ngoài ra tình trạng dư thừa công suất của các nhà máy  là phổ biến ở Đông Âu, Đông Nam Á (Thái Lan, ngược lại ở Bắc Mỹ).

Các nước tiêu thụ lớn xi măng trong những năm qua phải kể đến: Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật bản, Hàn Quốc, Nga, Tây Ban Nha, Italya, Braxin, Iran, Mê hy cô, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam, Ai Cập, Pháp, Đức…..

1.2 Ngành công nghiệp xi măng tại Việt Nam

1.2.1  Vị trí ngành công nghiệp xi măng trong nền kinh tế Việt Nam

Xi măng là một trong những ngành công nghiệp được hình thành sớm nhất ở nước ta (cùng với các ngành than, dệt, đường sắt).

  • Ngày 25/12/1889  khởi công xây dựng nhà máy xi măng đầu tiên của ngành Xi măng Việt Nam tại Hải Phòng.
  • Đến nay đã có khoảng 90 Công ty, đơn vị tham gia trực tiếp sản xuất và phục vụ sản xuất xi măng trong cả nước, trong đó: khoảng 33 thành viên thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam, 5 công ty liên doanh, và hơn 50 công ty nhỏ và các trạm nghiền khác.

Tuy nhiên sản lượng xi măng sản xuất trong những năm qua không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong nước:

Năm
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
SL
7,6
9,53
11,1
12,7
14,64
16,8
18,4
20
21,7
23,6
26,9
TT
9,3
10,1
11,1
13,62
16,48
20,5
24,38
26,5
28,2
32,1
35,8
NK
1,46
0,5
0,3
0,2
1,33
3,75
5,98
6,0
 6,5
8,5
8,9

Nguồn: VLXD đương đại (Đơn vị: triệu tấn)    


Trong những năm qua ngành xi măng đóng góp một phần không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế  Việt Nam, trung bình từ 10% - 12% GDP. Vì thế Chính phủ xác định Xi măng là ngành phát triển chiến lược nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế.

1.2.2    Các loại sản phẩm chính

Hiện nay trên sản phẩm xi măng trên thị trường có nhiều loại, tuy nhiên thông dụng trên thị trường Việt Nam gồm hai loại sản phẩm chính:

  • Xi măng Portland chỉ gồm thành phần chính là clinker và phụ gia thạch cao. Ví dụ: PC 30, PC 40, PC 50.
  • Xi măng Portland hỗn hợp vẫn với thành phần chính là clinker và thạch cao, ngoài ra còn một số thành phần phụ gia khác như đá pudôlan, xỉ lò. Ở thị trường các loại xi măng này có tên gọi như PCB 30, PCB 40

2.    Thực trạng hoạt động của ngành công nghiệp xi măng

Năng lực sản xuất và các yếu tổ ảnh hưởng tới sản xuất của doanh nghiệp trong ngành.

Trong những năm gần đây, một số nhà máy sản xuất xi măng lớn tập trung nhiều vào thị trường trong nước do thị trường này đang tăng trưởng mạnh mẽ. Ngành công nghiệp xi măng Việt Nam hiện nay đã có khoảng 14 nhà máy xi măng lò quay với tổng công suất thiết kế là 21,5 triệu tấn/năm, 55 cơ sở xi măng lò đứng, lò quay chuyển đổi tổng công suất thiết kế 6 triệu tấn/năm, khoảng 18 triệu tấn xi măng được sản xuất từ nguồn clinker trong nước (ứng với 14,41 triệu tấn clinker).

Hầu hết các nhà máy sản xuất xi măng sử dụng phương pháp kỹ thuật khô, ngoại trừ những nhà máy có lò trộn xi măng đứng với thiết bị và kỹ thuật lạc hậu, thì những nhà máy  còn lại có năng suất trộn xi măng từ 1,4 triệu đến 2,3 triệu tấn mỗi năm với thiết bị và trình độ kỹ thuật tương đương với nhữn nhà máy khác ở Đông Nam Á.

Việt Nam đang có khoảng 31 dự án xi măng lò quay với tổng công suất thiết kế  là 39 triệu tấn được phân bổ ở nhiều vùng trên cả nước. (Đa số tập trung ở miền Bắc, miền Trung và chỉ có 4/31nằm ở miền Nam).

Hiện nay các nhà máy xi măng phân bố không đều giữa các khu vực. Hầu hết các nhà máy tập trung nhiều tại miền Bắc nơi có vùng nguyên liệu đầu vào lớn, trong khi đó các nhà máy lớn phía Nam rất hạn chế. Do đó nguồn cung xi măng ở phía Bắc thì dư thừa trong khi miền Nam lại thiếu hụt.

Những yếu tố ảnh hưởng tới năng lực sản xuất của doanh nghiệp:

  • Các DN miền Bắc có vị trí địa lý thuận lợi cho việc khai thác nguyên vật liệu đầu vào do đó chủ động được về năng lực sản xuất. Doanh nghiệp miền Nam thì ngược lại.
  • Giá than đá, thạch cao và clinker những nguyên liệu đầu vào chính dùng cho sản xuất xi măng vẫn tăng đều qua các năm. Mà những nguyên liệu đầu vào này Việt Nam phải nhập khẩu với khối lượng rất lớn. Ngoài ra giá gas, dầu hiện nay biến động ảnh hưởng tới cước phí vận chuyển tăng. Ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và kết quả hoạt động của ngành.
  • Trình độ công nghệ của ngành lạc hậu cũ kỹ thừa hưởng của Nga, Pháp, Trung Quốc những năm 50 của thế kỷ trước vẫn còn được sử dụng. (Không riêng gì VN, Trung Quốc cũng đang lâm vào tình trạng này). Hiện này với các dự án dây chuyền, nhà máy xi măng lớn đang triển khai hy vọng sẽ thay thế công nghệ cũ, giúp năng lực sản xuất được tăng lên gấp nhiều lần
  • Tuy nhiên vốn đầu tư ban đầu vào máy móc thiết bị ngành xi măng là rất lớn, đó là sức ép đối với các doanh nghiệp sản xuất trong ngành khi muốn gia tăng công suất, đổi mới công nghệ.

Thị trường, thị phần và các yếu tố ảnh hưởng:

  • Hiện nay trên thị trường giá bán xi măng của các doanh nghiệp Miền Bắc thường thấp hơn giá bán xi măng của các doanh nghiệp Miền Nam khoảng 200.000 đồng/ tấn tùy từng loại dao động xung quanh mức chênh lệch này. (tính đến cuối tháng 4 đầu tháng 5/2008). Tại sao có mức khác biệt này: như đã nêu ở trên, các doanh nghiệp phân bố không đều giữa các miền, giá đầu vào của nguyên vật liệu, cước phí vận  chuyển, tổng nhu cầu xi măng tại miền Nam chiếm tới 40% tổng nhu cầu trong khi các doanh nghiệp miền Nam chỉ đáp ứng được 50% tổng nhu cầu đó.

Ngoài ra do xi măng là ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nên Chính phủ vẫn nắm quyền kiểm soát giá cả, giá cả bị chặn đầu ra – nhưng giá nguyên liệu đầu vào không ngừng xu thế tăng lên. Đó là khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp sản xuất trong ngành.

  • Thị phần tiêu thụ lớn nhất thuộc về Tổng công ty Xi măng Việt Nam chiếm khoảng 40% toàn thị trường – Thị phần tiêu thụ xi măng trong 04 tháng đầu năm 2008 con số này là 41,1% . Các doanh nghiệp lớn trong ngành đều thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam như: Hà Tiên1, 2, Xi măng Hoàng Thạch, Xi măng Hải Phòng….hơn 33 đơn vị gồm công ty con, công ty cổ phần  - tổng công ty nắm quyền chi phối, công ty liên doanh liên kết.
XiMang1.jpg
Biểu đồ sản lượng cung cấp cho thị trường và doanh thu từ năm 1995 -2007
của Tổng công ty xi măng Việt Nam


Thị phần của các doanh nghiệp xi măng nhỏ chiếm 31% toàn thị trường – 04 tháng đầu năm 2008 con số này là 28,9%  - do vốn nhỏ, khả năng cạnh tranh kém.

Thị phần của các doanh nghiệp liên doanh là 29% - 04 tháng đầu năm 2008 con số này là 30%.

XiMang2.jpg


Một số chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp của ngành:

Mã/Chỉ tiêu
HT1
TXM
BCC
BTS
SCJ
SCC
VĐL
870,000,000,000
70,000,000,000
900,000,000,000
900,000,000,000
27,742,000,000
19,800,000,000
TTS
1,968,826,034,485
140,593,999,428
1,968,611,143,293
2,190,092,087,826
119,308,112,182
43,182,330,767
DT (2007)
2,195,322,093,125
353,686,307,988
1,547,001,074,194
1,061,576,424,390
185,063,279,910
60,960,017,334
LN (2007)
100,238,751,034
8,032,354,636
139,044,095,052
101,221,271,649
29,411,436,041
4,674,592,528
ROA (2007)
(%)
4.24
5.28
5.75
4.36
40.85
11.19
ROE (2007)
(%)
10.44
17.07
13.13
9.79
26.66
12.28
EPS
1,100
1,110
1,490
1,120
10,600
2,140


3.  Một số doanh nghiệp trong ngành

Công ty cổ phần xi măng Hà Tiên 1 (HT1)
(Km 8 Xa lộ Hà Nội, Phường Trường Thọ, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)

Công ty được bắt đầu khởi công xây dựng năm 1960 và khánh thành ngày 21/03/1964 tại Thủ Đức. Hiện nay HT1 có công suất thiết kế sản xuất xi măng của công ty là 1,5 triệu tấn/năm, tuy nhiên Công ty Xi măng Hà Tiên 1, hằng năm sản xuất và tiêu thụ gần 2 triệu tấn/năm phục vụ nhu cầu rất lớn của thị trường.XimangHaTien.jpg

Thị phần: Theo báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, thị phần Xi măng Hà Tiên 1 chiếm khoảng 8% thị trường xi măng trên toàn quốc.

Sản phẩm của Xi măng Hà Tiên 1 chủ yếu được tiêu thụ tại khu vực IV với 39% thị phần (Khu vực IV bao gồm các tỉnh Đông – Nam Bộ, một phần khu vực Mekong và mọt vài tỉnh cao nguyên, chỉ riêng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai chiếm khoảng 65% tổng lượng xi măng bán ra của Hà Tiên 1).

Kế hoạch: Ngoài ra HT1 có một số dự án đang triển khai dự kiến hoàn thành cuối năm 2008, và 2009. Khi cả hai dự án đi vào hoạt động nâng tổng công suất của công ty lên 4,7 triệu tấn xi măng/năm.

Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của HT1:
VĐL (VNĐ)
870,000,000,000
TTS (VNĐ)
1,968,826,034,485
DT (2007) (VNĐ)
2,195,322,093,125
LN (2007) (VNĐ)
100,238,751,034
ROA (2007) (%)
4.24
ROE (2007) (%)
10.44
EPS
1,100
LN biên (%)
4,6
Tỷ lệ nợ/TTS (%)
42


Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn

Công ty Xi măng Bỉm Sơn ra đời vào đầu những năm 80 (4/03/1980) của thế kỷ trước tại Thanh Hóa nơi có vị trí địa lý rất thuận lợi cho việc khai thác nguyên vật liệu đầu vào của ngành xi măng.

Công nghệ của Nga với công suất là 1,8 triệu tấn xi măng mỗi năm. Xong với nhu cầu thị trườngXimangBimSon.jpg công ty sản xuất và tiêu thụ khoảng 2,2 triệu tấn/năm. Hiện nay công ty sử dụng cả hai phương pháp sản xuất: Phương pháp sản xuất ướt và phương pháp sản xuất khô.

Thị phần: Sản phẩm xi măng và clinker của công ty được tiêu thụ trên các thị trường từ tỉnh Quảng Ngãi trở ra. Riêng clinker công ty chủ yếu bán cho đơn vị liên kết là công ty Thạch cao xi măng Hải Vân . Đặc biệt tại Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nam Định thị phần tiêu thụ xi măng của công ty chiếm tới hơn 80%. Tại các đại lý chi nhánh lớn của công ty thị phần tiêu thụ cũng lên tới 30% -40% như Ninh Bình, Sơn La và Hà Tây là 60% -65%.

Kế hoạch: Công ty đang khẩn trương thi công dự án xây dựng một dây truyền sản xuất mới công suất 2 triệu tấn/năm, phấn đấu cuối năm 2008 một số hạng mục của dự án đi vào hoạt động và giữa năm 2009 toàn bộ các công đoạn sẽ chính thức đi vào hoạt động. Công suất toàn công ty sẽ là 3,8 triệu tấn/năm.

Một số chỉ tiêu tài chính BCC
VĐL (VNĐ)
900,000,000,000
TTS (VNĐ)
1,968,611,143,293
DT (2007) (VNĐ)
1,547,001,074,194
LN (2007) (VNĐ)
139,044,095,052
ROA (2007) (%)
5.75
ROE (2007) (%)
13.13
EPS
1,490
LN biên (%)
8,7
Tỷ lệ nợ/TTS (%)
56,2


Công ty cổ phần Xi măng Bút SơnXimangButSon.jpg
Thành lập năm 1997 tại Hà Nam, Bút Sơn có công suất 1,356 triệu tấn/năm .

Công nghệ: Với thiết bị dây chuyền hiện đại đồng bộ do hãng Technip-Cle cộng hòa Pháp cung cấp, công nghệ lò quay phương pháp khô, bao gồm các thiết bị hiện đại do các nước Tây Âu chế tạo, thuộc loại tiến tiến.

Hiện nay với công suât 1,4 triệu tấn/năm nhưng công ty luôn có mức sản xuất và tiêu thụ vượt công suất khoảng 1,6 triệu tấn/năm – 1,7 triệu tấn/năm.

Thị trường tiêu thụ: 95% - 98% tổng sản lượng tiêu thụ của BTS tại thị trường miền Bắc (14% thị phần toàn thị trường Miền Bắc), còn lại là ở miên Trung. Với thị trường miền Nam, BTS chủ yếu cung cấp clinker cho HT1.

Một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu của BTS năm 2007:
VĐL (VNĐ)
900,000,000,000
TTS (VNĐ)
2,190,092,087,826
DT (2007) (VNĐ)
1,061,576,424,390
LN (2007) (VNĐ)
101,221,271,649
ROA (2007) (%)
4.36
ROE (2007) (%)
9.79
EPS
1,120
LN biên (%)
9,5
Tỷ lệ nợ/TTS (%)
49,1


5. Chiến lược ngành và Dự báo tăng trưởng

Chiến lược ngành:

  • Tiết kiệm chi phí do giá nguyên vật liệu đâu vào ngày càng đắt đỏ, phấn đấu đủ năng lực cạnh tranh với xi măng nhập khẩu khi không còn được bảo hộ về thuế (chất lượng sản phẩm, giá)
  • Phấn đấu tự sản xuất clinker, không phải nhập khẩu (hiện tại các DN VN nhập khẩu chủ yếu clinker, thạch cao từ Thái Lan, và Indonesia).
  • Đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu sang các nước khác.
  • Trở thành nước có công suất và sản lượng xi măng lớn nhất trong khối các nước ASEAN.

Ngắn hạn:
Trong ngắn hạn các công ty trong ngành công nghiệp xi măng khó có thể đạt được các mục tiêu về doanh thu và lợi nhuận của năm 2008 do giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, đặc biệt là clinker nhập khẩu (rất khó khăn cho các công ty phía Nam – không sản xuất được clinker):

  • Giá nguyên vật liệu đầu vào(Clinker, than đá) tăng cao làm ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm tăng cao
  • Giá bán của xi măng bị nhà nước khống chế nên không điều tiết theo thị trường
  • Trong thời kỳ lạm phát tăng cao chính phủ có chính sách thắt chặt quản lý đầu tư, người tiêu dụng cũng hạn chế thực hiện các công trình dân dụng.
  • Các ngân hàng thương mại hạn chế cho vay nên các dự án lớn của các Công ty dừng lại
XiMang3.jpg


Dự báo các chỉ tiêu kinh tế ngành xi măng giai đoạn 2007-2010:

Chỉ tiêu
ĐVT
2007
2008
2009
2010
1
Nhu cầu xi măng

Triệu tấn

36.1
40.1
44.5
49.4
2
Tăng trưởng tiêu thụ xi măng
%/năm
11.0
11.0
11.0
11.0
3
Năng lực sản xuất trong nước
Triệu tấn
26.9
34.2
44.8
51.8
4
Thừa (+), thiếu (-)
Triệu tấn
-9.2
-5.8
0.4
2.4
(Nguồn: Quyết định số 108/2005/QĐ-TTg ngày 16/05/2005 của Chính phủ  v/v phê duyệt quy hoạch phát triển ngành xi măng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.


Trung và dài hạn:
Ngành xi măng và các ngành nguyên vật liệu xây dựng khác sẽ hưởng lợi từ sự phát triển của lĩnh vực xây dựng, bất động sản và cơ sở hạ tầng.

Triển vọng tăng trưởng hàng năm của nhu cầu xi măng trong giai đoạn 2008- 2010 là 11%, giai đoạn 2011 -2016 vào khoảng 9%/năm và giai đoạn 2016 -2020 là 4,5%/năm. Nhu cầu xi măng được ước lượng sẽ đạt 76 triệu tấn vào năm 2015, hơn gấp 2 lần nhu cầu năm 2007 đã đạt mức 35,8 triệu tấn
 
Tuy nhiên theo dự báo hiện nay có rất nhiêu các dự án sắp đi vào giai đoạn hoạt động. Mặc dù nhu cầu sử dụng lớn, nhưng với công suất dự kiến đến cuối năm 2009 ngành xi măng không những đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường mà còn phải tính tới việc xuất khẩu. Buộc các công ty trong ngành phải có hướng đi rõ ràng trong sản xuất kinh doanh, có lộ trình cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Nếu các doanh nghiệp không có kế hoạch sớm lộ trình xuất khẩu sẽ dẫn tới tình trạng “thừa” xi măng – lãng phí trong khai thác công suất máy móc, giảm lợi nhuận kinh doanh.

Một nhân tố ảnh hưởng khác đó là nước ta có vị trí địa lý sát với quốc gia sản xuất xi măng lớn nhất thế giới Trung Quốc, do đó phải cụ thể hóa thị trường xuất khẩu khi nhu cầu trong nước đã tạm thời ổn định.

Doanh thu và lợi nhuận các năm sẽ không có sự đột phá lớn do đặc thù của ngành sản xuất đều có kế hoạch dài hơi, công suất máy móc không thể thay thế một sớm một chiều.
Để hội nhập, hiện nay Tổng công ty xi măng đã có những dự án ứng dụng công nghệ thông tin, hy vọng khi các dự án đi vào ứng dụng tạo ra bước đột phá lớn cho ngành.

 
Cacomngon © Saga, www.saga.vn | Tổng hợp
Các tin khác
  • VICEM: Bài toán thời lạm phát 
  • Mỹ có thể tăng 70% than xuất sang châu Á trong năm nay 
  • Cổ phiếu xi măng: Ăn cổ tức cũng đủ 
  • Thiếu nhiên liệu, ngành Xi măng phải làm gì? 
  • Âm thầm tăng giá than lên 20 - 40% 
  • Than tăng giá tạo thêm sức ép lên ngành xi măng  
  • 30.000 tấn than cốc của Australia thiệt hại bởi bão Yasi 
  • Xi măng tăng giá do các nhà máy ngừng hoạt động và thiếu điện 
  •   1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41  42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53       
    Phần
    Bộ
    Cân
    Bộ
    Nutraco
    Bộ
    Các
    Hệ
    Các
    Công
    Công
    Các
    Các
    Băng
    Băng
    Băng
    Bắp
    Phần
    Phần
    Phần
    Phần
    Giới
    Máy
    Máy
    Một

    CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG NGHIỆP T&H

    Trụ sở chính : 6/36/101 ngõ 254 Minh Khai, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
    Điện thoại: (04) 3 910 8638 / Fax: (04) 3 8223629
    Email: th.agri.jsc@gmail.com; info@th-jsc.com.vn /  Website: www.th-jsc.com.vn