CÔNG NGHIỆP
  Máy phân tích trên băng cho than
  Máy phân tích trên băng cho xi măng
  Sản phẩm của Thermo Ramsey
  Máy phân tích khí
  Băng Tải
  Con Lăn
  Cân điện tử
  Thiết bị y tế
  Máy nghiền
  Thiết bị phòng thí nghiệm
  Xử lý nước
NÔNG NGHIỆP
  Nguyên liệu SX TĂCN
  Thiết bị
Tìm kiếm - sản phẩm
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ trực tuyến
04.39108638
Hình ảnh - Quảng cáo
Lượt truy cập
Số người online: 745
Tổng truy cập: 26.301.921
Nhà nông cần biết
Bổ sung chất béo khẩu phần ăn đã làm tăng tỷ lệ % mỡ sữa mà không làm ảnh hưởng đến các đặc điểm đặc trưng dạ cỏ của bò cái Holstein ở môi trường nhiệt đới ấm 

Mục đích của thí nghiệm này là để điều tra nghiên cứu ảnh hưởng của các khẩu phần ăn được bổ sung mỡ lợn hoặc mỡ prilled (CoralacR) đến năng suất sữa, cấu thành huyết tương và các đặc điểm đặc trưng dạ cỏ của bò cái Holstein ở miền khí hậu ấm

1. Tóm tắt

Mục đích của thí nghiệm này là để điều tra nghiên cứu ảnh hưởng của các khẩu phần ăn được bổ sung mỡ lợn hoặc mỡ prilled (CoralacR) đến năng suất sữa, cấu thành huyết tương và các đặc điểm đặc trưng dạ cỏ của bò cái Holstein ở miền khí hậu ấm. Trong thí nghiệm 1, 18 bò cái Holstein, 14 con đẻ lứa đầu ở ngày tiết sữa 43 và 4 con đẻ lứa con rạ ở ngày tiết sữa 55, đã được chỉ định ngẫu nhiên vào 6 lô thí nghiệm theo kiểu ô vuông la tinh 3 x 3, mà trong đó 3 lô thí nghiệm khẩu phần ăn có cùng hàm lượng protein nhưng khác nhau về khẩu phần cơ bản (đối chứng), khẩu phần cơ bản bổ sung 2,5% mỡ lợn (ML), và khẩu phần cơ bản bổ xung với 2.5% mỡ Prilled thương phẩm (MP). Trong thí nghiệm 2, 3 bò cái Holstein không tiết sữa đang có thai đã đặt ống thông dạ cỏ có khối lượng cơ thể trung bình 550 kg đã được phân bố vào mô hình thí nghiệm ô vuông la tinh 3 x 3 với khẩu phần ăn giống hệt như ở lần thí nghiệm 1 được nuôi dưỡng cho bò cái ở mức 1,5% khối lượng cơ thể dựa trên nền vật chất khô (VCK). Các kết quả đã chỉ ra rằng vật chất khô ăn được không khác nhau giữa các lô thí nghiệm. Sản lượng sữa và sản lượng sữa quy đổi 4% mỡ (SQĐ) ở MP là lớn hơn (p < 0,05) so với ở lô đối chứng. ML và MP gây ra tỷ lệ % mỡ sữa cao hơn. Protein, lactose và hàm lượng chất rắn ở sữa là không khác nhau giữa ba thí nghiệm khẩu phần ăn. Nồng độ của các axit béo không ester hoá (NEFA) trong huyết tương lớn hơn có ý nghĩa ở ML và MP so với nồng độ các axit béo không ester hoá đó ở lô đối chứng. Tuy nhiên, nồng độ của triglycerides, nitơ urea, và cholesterol ở huyết tương là khác nhau không có ý nghĩa giữa ba lô thí nghiệm. Mặc dù tỷ lệ % isobutyrate do dạ cỏ nghiền ở ML và MP là lớn hơn, sự khác nhau không có ý nghĩa được quan sát thấy ở pH dạ cỏ, nồng độ NH3 - N và sản xuất axit béo bay hơi (ABBH) giữa ba lô thí nghiệm. Khẩu phần ăn bổ sung chất béo có thể cải tiến sản lượng sữa và tỷ lệ % mỡ sữa không gây ra mất thuận lợi về các địa điểm  đặc trưng dạ cỏ ở bò cái ở đầu kỳ sữa và ở miền khí hậu ấm.

 (asian - aust. J.Anim.Sci. 2004. Vol 17, N02 : 213 - 220).

2. Mở đầu

Cũng như các đàn bò sữa đang được cải tiến về mặt di truyền, thì  tiềm năng sản xuất về sản lượng sữa cứ tăng lên mãnh liệt. Các bò cái sữa cao sản vẫn thường xảy ra trong một tình trạng cân bằng năng lượng âm trong suốt thời gian đầu kỳ sữa. Đặc biệt, thực tế là các bò cái sữa không thể đáp ứng đầy đủ tiềm năng sản xuất cao của chúng ở các vùng nhiệt đợi và á nhiệt đới từ khi stress nhiệt làm giảm xuống lượng thức ăn ăn được của chúng trong suốt các mùa ấm. ở các vùng này, năng lượng luôn luôn là yếu tố hạn chế chủ yếu đến năng suất sữa của các bò cái đang tiết sữa, như vậy, một chiến lược luôn được chấp thuận là tăng tỷ lệ thức ăn tinh khẩu phần ăn để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho tiết sữa. Tuy nhiên, cho ăn quá mức thức ăn tinh có thể gây ra bệnh toan a xít và làm giảm pH dạ cỏ, và lần lượt có hại tới sự sinh trưởng phát triển vi sinh vật và tiêu hoá chất xơ ở dạ cỏ. Những ảnh hưởng này do đó gây ra mỡ sữa thấp (Elliott và cs., 1995).

Đa số các nhà nghiên cứu đặt vấn đề liên quan đến bổ sung lipid vào khẩu phần ăn cho bò cái đang tiết sữa đã được khảo sát ở vùng khí hậu ôn hoà. Khi áp dụng công nghệ được thiết lập ở vùng ôn hoà vào vùng nhiệt đới hoặc á nhiệt đới, thì các kết quả không nhất thiết xảy ra như là kết quả như mong muốn. Nghiên cứu trước đây của chúng tôi đã chứng minh một ví dụ ngoài sự mong muốn này (Fan và cs., 2002). Mặc dù nhiều cuộc nghiên cứu tương tự đã được thực hiện ở các vùng khí hậu ôn hoà, nhưng vẫn cần thiết có các cuộc nghiên cứu để đáp ứng nhu cầu cụ thể và để lắp vào môi trường duy nhất của các khu vực địa phương ở vùng nhiệt đới hay á nhiệt đới.

Chất béo chứa nhiều năng lượng hơn nhiều so với năng lượng của các thức ăn dạng hạt đối với việc nuôi dưỡng bò cái. Andrew và cs. (1990) đã chỉ ra rằng chất béo thương phẩm, Ca-Soap, được làm từ acid béo cây cọ dừa, có chứa 85% acid béo cung cấp 3,3 lần NEl so với hạt ngũ cốc cung cấp dựa trên nền vật chất khô. ở mức độ tương đương về vật chất khô ăn được, khẩu phần cung cấp chất béo dẫn đến năng lượng ăn được nhiều hơn. Như vậy, việc cung cấp chất béo trong khẩu phần đối với các bò cái đang tiết sữa đầu kỳ có thể cung cấp cân bằng năng lượng âm, ngăn cản chúng không đánh mất khối lượng cơ thể và làm tăng sản lượng sữa của chúng (NRC, 1989; Palmquist và Jenkins, 1980).

Theo các tính chất hóa học và lý học, chất béo có thể được phân lớp thành 3 loại có tên là: dầu thực vật là các chất béo chủ yếu chưa no, chất béo động vật là chất béo chủ yếu đã bão hoà, và bảo vệ các chất béo để sử dụng thương phẩm. Sử dụng quá mức các acid béo chưa bão hoà trong các khẩu phần ăn có thể gây ra mối lo âu tới sinh thái học của vi sinh vật dạ cỏ và các hoạt động lên men của chúng, do đó sẽ gây ra nhiều hơn về sự suy giảm về hiệu quả năng suất (Coppock và Wilks, 1991). Để đề phòng các ảnh hưởng bất thuận tiện này, thì một số cách quan trọng nói chung sẽ được chấp thuận như là sử dụng acid béo đã được bảo vệ, có thể nói là, chất béo Prilled hoặc sử dụng chát béo không được bảo vệ trong các hạt dầu hoặc mỡ súc vật (Tallow) có hạn chế không nhiều hơn 4 - 5% vật chất khô hoặc không nhiều hơn 7 - 8% mỡ thô tổng số (Coppock và Wilks, 1991 Palmquist và Conrad 1978).

Tỷ lệ Acetate/Propionate ở dịch dạ cỏ của các bò cái giữa kỳ sữa thu được bằng một ống tuýp qua thực quản đã giảm xuống cùng với sự tăng lên acid béo Prilled khẩu phần chứa 0, 3, 6 hoặc 9% vật chất béo do Ferguson và cs. (1990) đã báo cáo. Cho thêm 3 đến 5% chất béo vào thức ăn nói chung cho thấy các vi sinh vật dạ cỏ chịu đựng được (Palmquist, 1984). Tương tự là, Chalupa và cs. (1986) đã khuyên rằng bổ xung 6 đến 8% acid béo mạch các bon dài có thể có đủ khả năng để làm tối ưu năng suất và sức khoẻ của các bò cái Holstein từ lúc chúng được nhận thấy rằng cho thêm các acid béo ở mức 10% vào một khẩu phần cơ bản dẫn đến suy giảm kịch liệt tỷ lệ acetate/propionate khoảng 50 đến 60%. Các nghiên cứu này cho thấy rằng việc bổ sung lipid trong khẩu phần ăn trên mức có hiệu quả có thể gây ảnh hưởng đến lên men dạ cỏ. Như vậy, một mức độ thích hợp trong việc cho thêm lipid vào khẩu phần ăn sẽ không gây ra hiệu ứng bất lợi đến lên men dạ cỏ là một vấn đề quan tâm của nghiên cứu này.

Mỡ súc vật chứa khoảng 45% acid béo đã bão hoà. Mỡ lợn chứa khoảng 40% acid béo bão hoà, tương tự với mỡ súc vật về tính chất vật lý và hoá học. Tuy nhiên, mỡ lợn ít khi được bổ sung trong các chế độ ăn cho bò sữa trong thực tiễn. ở Đài Loan việc sản xuất mỡ lợn là phong phú hơn nhiều so với việc sản xuất mỡ súc vật bởi vì ngành nuôi lợn trên quốc gia rất mạnh. Mỡ lợn có thể là một nguồn năng lượng tốt cho bò sữa. Tuy nhiên, chỉ có một số lượng có hạn các nghiên cứu kiểm tra sử dụng mỡ lợn trong chế độ ăn bò sữa. Nghiên cứu này được chỉ đạo thực hiện để điều tra nghiên cứu ảnh hưởng so sánh của việc bổ sung mỡ khẩu phần ăn (chất béo không được bảo hộ) hoặc là chất béo prilled (một chất béo được bảo hộ) đến năng suất tiết sữa, đặc biệt là tập trung đến sản lượng sữa và mỡ sữa cũng như sự thay đổi tương đối ở các tham số máu và dạ cỏ. 

Để theo dõi đầy đủ các bạn xem tại đây

Các tin khác
  • Nghệ An: Giống sắn TC1 đạt 60 tấn/ha 
  • Phát triển bền vững ngành chăn nuôi: Cần đa dạng hóa kinh tế trang trại 
  • LIFSAP hỗ trợ 6 triệu USD thúc đẩy chăn nuôi và an toàn vệ sinh thực phẩm tại TPHCM  
  • 3 giống cỏ chất lượng cao 
  • Bài học từ buổi tập huấn 
  • Một số vấn đề cần chú ý trong chăn nuôi bò sữa 
  • Cây ngô vẫn còn nhiều cơ hội 
  • Phát triển chăn nuôi bò sữa theo mô hình nông hộ 
  •   1 2  3 4 5 6       
    Phần
    Bộ
    Cân
    Bộ
    Nutraco
    Bộ
    Các
    Hệ
    Các
    Công
    Công
    Các
    Các
    Băng
    Băng
    Băng
    Bắp
    Phần
    Phần
    Phần
    Phần
    Giới
    Máy
    Máy
    Một

    CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG NGHIỆP T&H

    Trụ sở chính : 6/36/101 ngõ 254 Minh Khai, phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
    Điện thoại: (04) 3 910 8638 / Fax: (04) 3 8223629
    Email: th.agri.jsc@gmail.com; info@th-jsc.com.vn /  Website: www.th-jsc.com.vn